- Nguồn gốc xung đột trong dự án · Sources of Project Conflict
- PMBOK 6 nêu các nguồn xung đột phổ biến trong dự án: nguồn lực khan hiếm, ưu tiên về lịch biểu và phong cách làm việc cá nhân. Nghiên cứu kinh điển của Thamhain và Wilemon về môi trường dự án liệt kê thêm: ưu tiên dự án, thủ tục hành chính, ý kiến kỹ thuật, chi phí, và tính cách – trong đó xung đột về lịch biểu thường xếp đầu, còn xung đột tính cách tuy dễ thấy nhưng ít khi là nguyên nhân chính. Hàm ý: phần lớn xung đột bắt nguồn từ công việc, nên kế hoạch rõ, quy tắc cơ bản, phân công vai trò rõ và giao tiếp tốt giúp giảm xung đột.
- Xung đột nhiệm vụ và xung đột quan hệ · Task Conflict vs Relationship Conflict
- Xung đột nhiệm vụ (task/cognitive conflict) là bất đồng về nội dung công việc: giải pháp, ưu tiên, cách làm. Xung đột quan hệ (relationship/affective conflict) là căng thẳng cá nhân: khó chịu, mất tin tưởng, công kích con người. Xung đột nhiệm vụ ở mức vừa phải, trong môi trường an toàn tâm lý, có thể giúp ra quyết định tốt hơn; xung đột quan hệ hầu như luôn làm giảm hiệu suất và sự hài lòng. Rủi ro lớn nhất là xung đột nhiệm vụ biến thành xung đột quan hệ khi tranh luận bị cá nhân hoá.
- Năm kiểu xử lý xung đột Thomas-Kilmann · Thomas-Kilmann Conflict Modes
- Mô hình xếp cách ứng xử khi xung đột theo hai trục: mức quyết đoán (bảo vệ quan điểm mình) và mức hợp tác (quan tâm nhu cầu người khác), cho ra 5 kiểu: Cạnh tranh/Áp đặt (competing/forcing), Hợp tác/Giải quyết vấn đề (collaborating), Thoả hiệp (compromising), Né tránh/Rút lui (avoiding/withdrawing), Nhường nhịn/Xoa dịu (accommodating/smoothing). Hợp tác thường cho kết quả bền vững nhất; kiểu nào phù hợp còn tuỳ mức khẩn cấp, quan hệ và tầm quan trọng.
- Năm mức độ xung đột của Speed Leas · Speed Leas' Five Levels of Conflict
- Thang mức độ xung đột của Speed Leas, được Lyssa Adkins phổ biến trong huấn luyện đội agile: 1) Vấn đề cần giải quyết – thông tin cởi mở, tập trung vào việc; 2) Bất đồng – bắt đầu tự bảo vệ, lời lẽ dè dặt; 3) Tranh đấu – muốn thắng, chia phe, đổ lỗi; 4) Thập tự chinh – bảo vệ phe mình, cho rằng phía bên kia không thể thay đổi và cần bị loại; 5) Chiến tranh – muốn tiêu diệt đối phương. Ở mức 1–2, đội thường tự xử lý (hợp tác, thoả hiệp); mức 3 cần người điều phối hỗ trợ; mức 4–5 cần can thiệp mạnh như hoà giải, tách người.
- Đàm phán theo nguyên tắc · Principled Negotiation (Getting to Yes)
- Phương pháp đàm phán của Roger Fisher và William Ury (Dự án Đàm phán Harvard) với 4 nguyên tắc: tách con người khỏi vấn đề; tập trung vào lợi ích (vì sao) chứ không vào lập trường (đòi gì); tạo nhiều phương án cùng có lợi trước khi quyết; dùng tiêu chí khách quan (giá thị trường, tiêu chuẩn, tiền lệ). Đây là nền tảng của cách tiếp cận cộng tác/giải quyết vấn đề, hướng tới kết quả cùng thắng (win-win) – phù hợp với tư duy PMP khi đàm phán nguồn lực, phạm vi hay hợp đồng.
- Phương án thay thế tốt nhất · BATNA (Best Alternative to a Negotiated Agreement)
- Phương án tốt nhất mà một bên có thể thực hiện nếu đàm phán thất bại. BATNA quyết định sức mạnh đàm phán: BATNA càng tốt, càng ít bị ép chấp nhận thoả thuận bất lợi. Nguyên tắc: xác định và cải thiện BATNA của mình trước khi đàm phán, ước đoán BATNA của đối phương, và không chấp nhận thoả thuận kém hơn BATNA. Từ BATNA suy ra mức tối thiểu chấp nhận được (reservation point).
- Quy tắc cơ bản · Ground Rules
- Những kỳ vọng rõ ràng về hành vi được đội chấp nhận khi làm việc cùng nhau, thường ghi trong điều lệ đội: đúng giờ, cách tranh luận, thời gian phản hồi, cách ra quyết định, cách xử lý bất đồng. Quy tắc hiệu quả nhất khi do chính đội thảo luận và thống nhất từ sớm; khi được đồng thuận, mọi thành viên – không chỉ PM – có trách nhiệm nhắc nhau tuân thủ. Quy tắc rõ giảm hiểu lầm và ngăn nhiều xung đột trước khi chúng phát sinh.